Tuesday, April 24, 2018

Bài Học. Thứ Ba ngày 24-4-2018

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Tuệ Siêu

Chương X - Mười Pháp

  III. Phẩm Lớn.

(I) (21) Con Sư Tử

1. - Này các Tỷ-kheo, con sư tử, vua các loài thú, vào buổi chiều, từ hang đi ra. Sau khi từ hang đi ra, nó duỗi chân; sau khi duỗi chân, nó nhìn xung quanh bốn phương, sau khi nhìn xung quanh bốn phương, nó rống lên ba lần tiếng rống con sư tử; sau khi rống ba lần tiếng rống con sư tử, nó ra đi tìm mồi. Vì sao? Nó rống với ý nghĩ: "Mong rằng ta không làm tàn hại các loài thú nhỏ đi lạc đường." Này các Tỷ-kheo, con sư tử là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. "Này các Tỷ-kheo, Như Lai thuyết pháp trong hội chúng, đây chỉ cho tiếng rống con sư tử. Này các Tỷ-kheo, có mười Như Lai lực này của Như Lai, thành tựu những lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử giữa các hội chúng và chuyển Pháp luân. Thế nào là mười?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết xứ là xứ, phi xứ là phi xứ. Như vậy là Như Lai lực của Như Lai. Như vậy, chính nhờ Như Lai lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu vương, rống lên tiếng rống con sư tử trong các hội chúng và chuyển Pháp luân.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các hành nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại. Này Các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết... (như trên)... và chuyển Pháp luân.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết con đường đưa đến tất cả sanh thú. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết... (như trên)... và chuyển Pháp luân.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết thế giới với nhiều giới, nhiều sai biệt. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết... (như trên)... và chuyển Pháp luân.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết chí hướng sai biệt của các loài chúng sanh. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết... (như trên)... và chuyển Pháp luân.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết những căn thượng hạ của các loại chúng sanh, loài Người. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết... (như trên)... và chuyển Pháp luân.

8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của các Thiền chứng về Thiền, về giải thoát, về định. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết... (như trên)... và chuyển Pháp luân.

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều thành hoại kiếp. Như Lai nhớ rằng: "Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, Ta được sanh ra ở đây". Như vậy, Như Lai nhớ đến nhiều đời nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật biết... (như trên)... và chuyển Pháp luân.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Như Lai biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Các chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, về lời và về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Các chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Như Lai biết rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người hạ liệt, kẻ cao sang, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Này Các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết... (như trên)... và chuyển Pháp luân.

11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt vá an trú ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ Như Lai lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử trong các hội chúng và chuyển Pháp luân.

Này các Tỷ-kheo, đây là những Như Lai lực của Như Lai, chính nhờ thành tựu những lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử giữa các hội chúng và chuyển Pháp luân.



II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hợp

TT Giác Đẳng đúc kết phần trắc nghiệm


 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Túc mạng minh thuộc về trí lực nào của Như Lai? 
1. Biết những gì có thể và không có thể /
 2. Biết nhân nào cho quả nào và quả nào do nhân nào /
 3. Biết con đường đi lên và đi xuống các cảnh giới sanh tử /
 4. Biết rõ những sai biệt và nguyên tố tác thành /
 5. Biết rõ căn tính cá biệt của pháp giới hữu tình / 
6. Biết rõ trình độ cao thấp của chúng sanh / 
7. Biết rõ sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh và sự xuất ly các thiền chứng /
 8. Biết rõ những gì đã xẩy ra ở nhiều đời quá khứ /
 9. Biết rõ hạnh nghiệp tạo nên vui khổ /
 10. Biết rõ căn nguyên phiền não và phương cách chứng đạt vô lậu giải thoát.

TT Pháp Đăng cho đáp án trắc nghiệm 1: 8

Trắc nghiệm 2. Kisa Gotamì thỉnh cầu Đức Thế Tôn cứu sống đứa con yêu quý đã chết. Đức Phật dạy đi xin hạt cải ở người nào chưa từng có chuyện sanh ly tử biệt. Cuối cùng nàng hiểu là vô thường là định luật chung. Câu chuyện đó nói lên trí lực nổi bậc nào của Như Lai? 
1. Biết những gì có thể và không có thể /
 2. Biết nhân nào cho quả nào và quả nào do nhân nào / 
3. Biết con đường đi lên và đi xuống các cảnh giới sanh tử / 
4. Biết rõ những sai biệt và nguyên tố tác thành /  
 5. Biết rõ căn tính cá biệt của pháp giới hữu tình /
 6. Biết rõ trình độ cao thấp của chúng sanh / 
7. Biết rõ sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh và sự xuất ly các thiền chứng /
 8. Biết rõ những gì đã xẩy ra ở nhiều đời quá khứ /
 9. Biết rõ căn nguyên sanh tử / 
10. Biết rõ bản chất phiền não và phương cách chứng đạt vô lậu giải thoát.

TT Pháp Tân cho đáp án trắc nghiệm 2: 1

Trắc nghiệm 3. Tôn giả Sunita xuất thân từ giai cấp hạ tiện. Thánh ni Ambapali nguyên là một kỷ nữ. Tất cả đều được Đức Phật khai thị trở thành bậc A la hán. Câu chuyện đó nói lên trí lực nổi bậc nào của Như Lai?
 1. Biết những gì có thể và không có thể /
 2. Biết nhân nào cho quả nào và quả nào do nhân nào / 
3. Biết con đường đi lên và đi xuống các cảnh giới sanh tử / 
4. Biết rõ những sai biệt và nguyên tố tác thành /  
5. Biết rõ căn tính cá biệt của pháp giới hữu tình / 
6. Biết rõ trình độ cao thấp của chúng sanh / 
7. Biết rõ sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh và sự xuất ly các thiền chứng /
 8. Biết rõ những gì đã xẩy ra ở nhiều đời quá khứ / 
9. Biết rõ căn nguyên sanh tử / 
10. Biết rõ bản chất phiền não và phương cách chứng đạt vô lậu giải thoát.


ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án trắc nghiệm 3:6

Trắc nghiệm 4. Một thiện nam trọn tin Tam Bảo đi chùa nghe pháp tu tập cả đêm. Gần sáng trên đường về nhà ra bờ sông rửa mặt bị dân làng đánh chết vì lầm tưởng là ăn trộm. Câu chuyện trình lên Đức Phật. Ngài đã dạy về nghiệp quá khứ bất thiện đã tạo nên tai vạ hiện tại của con người hiền thiện. Câu chuyện đó nói lên trí lực nổi bậc nào của Như Lai? 
1. Biết những gì có thể và không có thể / 
2. Biết nhân nào cho quả nào và quả nào do nhân nào /
3. Biết con đường đi lên và đi xuống các cảnh giới s
  5. Biết rõ căn tính cá biệt của pháp giới hữu tình /
 6. Biết rõ trình độ cao thấp của chúng sanh /
 7. Biết rõ sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh và sự xuất ly các thiền chứng /
 8. Biết rõ những gì đã xẩy ra ở nhiều đời quá khứ / 
9. Biết rõ căn nguyên sanh tử /
 10. Biết rõ bản chất phiền não và phương cách chứng đạt vô lậu giải thoát.

TT Pháp Đăng cho đáp án trắc nghiệm 4:

Trắc nghiệm 5. Tôn giả Sona nỗ lực thật nhiều nhưng không giác ngộ. Đức Thế Tôn dùng thí dụ về giây đàn căng quá khi đàn bị đứt mà dùn quá thì không tạo nên âm thanh mong muốn. Tôn giả lãnh hội quân bình ngũ lực và chứng đắc quả vô lậu giải thoát. Câu chuyện đó nói lên trí lực nổi bậc nào của Như Lai?
 1. Biết những gì có thể và không có thể / 
2. Biết nhân nào cho quả nào và quả nào do nhân nào / 
3. Biết con đường đi lên và đi xuống các cảnh giới sanh tử /
 4. Biết rõ những sai biệt và nguyên tố tác thành /
 5. Biết rõ căn tính cá biệt của pháp giới hữu tình /
 6. Biết rõ trình độ cao thấp của chúng sanh /
 7. Biết rõ sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh và sự xuất ly các thiền chứng /
 8. Biết rõ những gì đã xẩy ra ở nhiều đời quá khứ / 
9. Biết rõ căn nguyên sanh tử / 10. Biết rõ bản chất phiền não và phương cách chứng đạt vô lậu giải thoát.


TT Giác Đẳng cho đáp án trắc nghiệm 5: 10



Monday, April 23, 2018

Bài học. Thứ Hai ngày 23-4-2018

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Giác Đẳng

Chương X - Mười Pháp

  II. Phẩm Hộ Trì.

(IX) (19) Thánh Cư (1) và (X) (20) Thánh Cư (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, có mười Thánh cư này, với những Thánh cư này, các bậc Thánh đã sống, đang sống và sẽ sống. Thế nào là mười?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận năm chi phần, thành tựu sáu chi phần, hộ trì một sự, đầy đủ bốn y cứ, trừ khử sự thật cá nhân, đã đoạn tận hoàn toàn các tầm cầu, các tư duy không có uế trược, thân hành được khinh an, tâm được khéo giải thoát, tuệ được khéo giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, đây là mười Thánh cư, với những Thánh cư này, các bậc Thánh đã sống, đang sống và sẽ sống.

(X) (20) Thánh Cư (2)

1. Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru tại một thị trấn của dân tộc Kuru gọi là Kammàsadhama. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo... Thế Tôn nói như sau:

2. - Này các Tỷ-kheo, có mười Thánh cư này, với những Thánh cư này, các vị Thánh đã sống, đang sống, và sẽ sống. Thế nào là mười?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận năm chi phần, thành tựu sáu chi phần, hộ trì một sự, đầy đủ bốn y cứ, trừ khử sự thật cá nhân, đã đoạn tận hoàn toàn các tầm cầu, các tư duy không có uế trược, thân hành được khinh an, tâm được khéo giải thoát, tuệ được giải thoát.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã đoạn tận năm chi phần?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận dục tham, đoạn tận sân, đoạn tận hôn trầm thụy miên, đoạn tận trạo hối, đoạn tận nghi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận năm chi phần.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thành tựu sáu chi phần?

5. Ở đây, này các Tỷ kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc không có hân hoan, không có thất vọng, trú xả chánh niệm tỉnh giác; khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc, khi ý biết pháp, không có hân hoan, không có thất vọng, trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo thành tựu sáu chi phần.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì một sự?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo thành tựu với tâm được niệm hộ trì. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hộ trì một sự. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ bốn y cứ?

7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có đắn đo thân cận một sự, có đắn đo kham nhẫn một sự, có đắn đo tránh né một sự, có đắn đo trừ khử một sự. Như vậy này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ bốn y cứ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo trừ khử sự thật cá nhân?

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với những sự sai biệt phổ thông được các Sa-môn, Bà-la-môn phổ thông chấp nhận, như: "Thế giới là thường còn, thế giới là không thường còn; thế giới có giới hạn, thế giới không giới hạn, sinh mạng với thân thể là một, sinh mạng với thân thể là khác; Như Lai có tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"... Tất cả những tin tưởng được trừ diệt, trừ bỏ, xả bỏ, quăng bỏ giải tỏa, đoạn tận, từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo trừ khử những sự thật cá nhân.

Và này các Tỷ-kheo, như thế là Tỷ-kheo đã được tận hoàn toàn các tầm cầu?

9. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn tận dục tầm cầu, đã đoạn tận hữu tầm cầu, Phạm hạnh tầm cầu được khinh an. Như vậy, này Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đã đoạn tận hoàn toàn các tầm cầu.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Ty-kheo các tư duy không có uế trược?

10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ty-kheo đã đoạn tận dục tư duy, đã đoạn tận sân tư duy, đã đoạn tận hại tư duy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là các tư duy không có uế trược.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tâm hành được khinh an?

11. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn khổ, đoạn lạc, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng đạt và an trú Thiền Thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tâm hành được khinh an.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo tâm được khéo giải thoát?

12. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tâm được giải thoát khỏi tham, tâm được giải thoát khỏi sân, tâm được giải thoát khỏi si. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tâm được khéo giải thoát.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo với tuệ khéo giải thoát?

13. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo rõ biết rằng: "Tham ái đã được đoạn tận nơi ta, được chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tàla, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai", rõ biết rằng: "Sân đã được đoạn tận nơi ta... trong tương lai", rõ biết rằng: "Si đã được đoạn tận nơi ta, được chặt đứt từ gốc rễ, làm cho thân cây tàla, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. "Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo với tuệ khéo giải thoát.

14. Này các Tỷ-kheo, tất cả những vị Thánh nào trong quá khứ đã sống theo Thánh cư, tất cả những vị ấy đã sống theo mười Thánh cư này. Này các Tỷ-kheo, tất cả những vị Thánh nào trong tương lai sẽ sống theo Thánh cư, tất cả những vị ấy sẽ sống theo mười Thánh cư này. Này các Tỷ-kheo, tất cả những vị Thánh nào trong hiện tại sống theo Thánh cư, tất cả những vị ấy đang sống theo mười Thánh cư này.

Này các Tỷ-kheo, đây là mười Thánh cư mà các vị Thánh đã sống đang sống, và sẽ sống.



II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hợp

Thảo luận 1. Sự hiểu biết về “thánh cư” có lợi ích gì cho hành giả? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 2. Bài kinh nầy được Đức Phật dạy tại xứ Kuru, quốc độ có nhiều người hành tứ niệm xứ, phải chăng mười thánh cư có liên hệ đến ý nghĩ và sự thực hành chánh niệm? -  TTPháp Đăng


Thảo luận 3. Phải chăng rất khó để phàm nhân hoan hỷ với cảnh giới của bậc thánh?TT Tuệ Siêu



 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm  1. Khi dạy về “cảnh giới của bậc thánh” điều nào sau đây được ghi nhận là đúng?
 A. Chánh niệm tỉnh giác là tâm thái của các bậc thánh trong đời sống hằng ngày / 
B. Tâm của bậc thánh vô lậu không mảy may phiền não dù là vi tế / 
C. Tuệ giác đích thực là bản chất tự nhiên của bậc thánh / 
D. Ba câu trên đều đúng

ĐĐ Pháp Tín cho đáp án trắc nghiệm 1: D

 Trắc nghiệm 2. Điều nào sau đây được xem là đặc điểm của chánh niệm tỉnh giác?
 A. Sự việc thế nào ghi nhận như vậy không thêm không bớt /
 B. Không để tâm đi quá xa bằng sự suy diễn / 
C. Không gán ghép những sự việc với ý tưởng “là ta, là của ta, là tự ngã của ta / 
D. Cả ba câu trên

TT Pháp Đăng cho đáp án trắc nghiệm 2: D

 Trắc nghiệm 3. Một người lười biếng không muốn theo đuổi điều gì hay mong mõi điều gì thì khác gì với trạng thái “vô cầu” của bậc thánh? 
A. Bậc thánh không truy cầu vì không khao khát trong lúc người lười biếng thì “khoái” sự thụ động/
 B. Ý nghĩ “không muốn làm gì hết” cũng là ý muốn/ 
C. Sự vô cầu của bậc thánh khiến tâm tư các Ngài không khổ, người lười biếng gặp khổ vẫn khổ D. Ba câu trên đều đúng

ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án trắc nghiệm 3.D

Sunday, April 22, 2018

Bài học. Chủ Nhật ngày 22-4-2018

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Tuệ Siêu

Chương X - Mười Pháp

  II. Phẩm Hộ Trì.

VII) (17) Vị Hộ Trì (1)

1. - Này các Tỷ-kheo, hãy trú với vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì. Này các Tỷ-kheo, đau khổ là người sống không có vị hộ trì. Này các Tỷ-kheo, mười pháp này tạo thành vị hộ trì. Thế nào là mười?

2. Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học pháp. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này có giới, sống chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học pháp; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nghe nhiều, thọ trì những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe. Những pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, những pháp ấy, vị ấy đã nghe nhiều, đã thọ trì, đã tụng đọc bằng lời, đã quán sát với ý, đã thể nhập với chánh kiến; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào làm nào bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

5.Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn, và khéo chấp nhận những lời giáo giới; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có những công việc gì cần phải làm, hoặc lớn, hoặc nhỏ, đối với các vị đồng Phạm Hạnh; ở đây, vị ấy khéo léo và tinh cần, thành tựu sự quán sát các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào, phàm có những công việc gì... vừa đủ để tổ chức; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa pháp, cùng nói chuyện một cách dễ thương, hân hoan trong thắng Pháp, trong thắng Luật. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào ưa pháp, cùng nói chuyện một cách dễ thương, hân hoan trong thắng Pháp, trong thắng Luật; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tinh cần tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào sống tinh cần tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ lực kiên trì không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ đối với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào biết đủ đối với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chánh niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng ức niệm, tùy niệm việc đã làm từ lâu, đã nói từ lâu. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào chánh niệm... đã nói từ lâu; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí tuệ, thành tựu với trí tuệ về sanh diệt, trí tuệ thuộc bậc Thánh, thể nhập và hướng đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào có trí tuệ... đoạn tận khổ đau; đây là pháp tác thành vị hộ trì.

Này các Tỷ-kheo, hãy trú với vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì. Này các Tỷ-kheo, đau khổ là người trú không có vị hộ trì.

Này các Tỷ-kheo, đây là mười pháp tác thành vị hộ trì.

(VIII) (18) Vị Hộ Trì (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, hãy trú với vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì. Ðau khổ, này các Tỷ-kheo, là người trú không có vị hộ trì. Này các Tỷ-kheo, có mười pháp tác thành vị hộ trì này. Thế nào là mười?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là người có giới... chấp nhận và học tập trong các hoc pháp, nghĩ rằng: "Thật sự có giới là Tỷ-kheo này. Vị này trú, được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp". Các trưởng lão Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng nói đến, đáng được giáo giới... Các trung niên Tỷ-kheo... Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Với vị ấy, được các trưởng lão thương tưởng, được các trung niên thương tưởng, được các tân học thương tưởng, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là sự tổn giảm, đây là pháp tác thành vị hộ trì.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là vị nghe nhiều... khéo thông đạt nhờ chánh kiến, nghĩ rằng: "Thật sự Tỷ-kheo này là vị nghe nhiều, thọ trì những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe. Những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Những pháp ấy, vị ấy đã nghe nhiều, đã thọ trì, đã tụng đọc bằng lời, đã quán sát bằng ý, khéo thông đạt nhờ chánh kiến". Các trưởng lão Tỷ-kheo... Các trung niên Tỷ-kheo... Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Với vị ấy, được các trưởng lão thương tưởng, được các trung niên thương tưởng, được các tân học thương tưởng, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là sự tổn giảm. Ðây là pháp tác thành sự hộ trì.

4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện, nghĩ rằng: "Thật sự Tỷ-kheo này làm bạn với hiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện". Các Tỷ-kheo trưởng lão... Các tân học Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Với vị ấy... tác thành vị hộ trì.

5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới nghĩ rằng: "Thật sự Tỷ-kheo này, dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới". Các Tỷ-kheo trưởng lão... Các trung niên Tỷ-kheo... Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Với vị ấy... tác thành vị hộ trì.

6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, phàm có những công việc gì cần phải làm hoặc lớn hoặc nhỏ, đối với các đồng Phạm hạnh, ở đây vị ấy khéo léo và tinh cần, thành tựu suy tư đến các phương tiện vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Các trưởng lão Tỷ-kheo... Các trung niên Tỷ-niên... Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới... Ðây là pháp tác thành vị hộ trì.

7. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ưa pháp, cùng nói chuyện một cách dễ thương, hân hoan trong thắng Pháp, thắng Luật nghĩ rằng: " Thật sự vị Tỷ-kheo này ưa Pháp, cùng nói chuyện một cách dễ thương, hân hoan trong thắng Pháp, thắng Luật". Các trưởng lão Tỷ-kheo... Các trung niên Tỷ-kheo... Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới... tác thành vị hộ trì.

8. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp, nghĩ rằng: "Thật sự Tỷ-kheo này sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp". Các trưởng lão Tỷ-kheo... Các trung niên Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới... tác thành vị hộ trì.

9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ với các vật dụng như y, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nghĩ rằng: "Thật sự Tỷ-kheo này biết đủ với các vật dụng như y, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh". Các Tỷ-kheo trưởng lão... nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới... tác thành vị hộ trì.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chánh niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, ức niệm, tùy niệm việc đã làm, đã nói từ lâu, nghĩ rằng: "Thật sự Tỷ-kheo này chánh niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng... đã làm, đã nói từ lâu". Các Tỷ-kheo trưởng lão... Các trung niên Tỷ-kheo... Các tân học Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới... tác thành vị hộ trì.

11. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, thể nhập Thánh quyết trạch, đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau, nghĩ rằng: " Thật sự Tỷ-kheo này có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, thể nhập Thánh quyết trạch đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau". Các Tỷ-kheo trưởng lão nghĩ đến Tỷ-kheo đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Các trung niên Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy được nói đến, đáng được giáo giới. Các tân học Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Với vị ấy được các trưởng lão thương tưởng, được các trung niên thương tưởng, được các tân học thương tưởng, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là sự tổn giảm. Ðây là pháp tác thành vị hộ trì.

Này các Tỷ-kheo, hãy trú có vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì. Ðau khổ, này các Tỷ-kheo, là người trú không có vị hộ trì.


Này các Tỷ-kheo, đây là mười pháp tác thành vị hộ trì.



II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hợp

Thảo luận 1. Theo tín ngưỡng dân gian thì mỗi người đều có vị thần hộ mạng, Phật Pháp có dạy như vậy chăng? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 2. Trông cậy vào sự gia hộ của ân đức Tam Bảo, chư thiên, của phước báo .. có khiến chúng ta yếu đuối hơn hay mạnh mẽ hơn? - TT Pháp Tân

Thảo luận 3. Một tỳ kheo sống huân tu mười pháp hộ trì có "quá bận rộn" để chuyên tâm thiền định? - TT Pháp Đăng

Thảo luận 4. Một người xuất gia có nên trông cậy vào sự hộ trì của đàn tín? - ĐĐ Pháp Tín


Thảo luận 5. Tin tưởng là bản thân có sự hộ trì có tác dụng gì trên phương diện tâm lý? - ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 6. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận


 III Trắc Nghiệm

Saturday, April 21, 2018

Bài học. Thứ Bảy ngày 21-4-2018

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Pháp Tân

Chương X - Mười Pháp

  II. Phẩm Hộ Trì.

(VI) (16) Ðáng Ðược Cúng Dường

1. - Này các Tỷ-kheo, mười hạng người này đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là mười?

2. Như lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Giác, bậc Ðộc giác, bậc Giải thoát cả hai phần, bậc Tuệ giải thoát, bậc Thân chứng, bậc Kiến chí, bậc Tín giải thoát, bậc Tùy pháp hành, bậc Tùy tín hành, bậc Chuyển tánh.

Này các Tỷ-kheo, mười hạng người này đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.



II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hợp

Thảo luận 1. TT Giác Đẳng đúc kết phần trắc nghiệm


 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Những vị nào sau đây thuộc hạng “tự mình giác ngộ”? 
A. Bậc Như Lai chánh đẳng chánh giác, bậc độc giác /
 B. Bậc câu phần giải thoát, bậc tuệ giải thoát / 
C. bậc Thân chứng, bậc Kiến chí, bậc Tín giải thoát, bậc Tùy pháp hành, bậc Tùy tín hành, /
 D. bậc Chuyển tánh

TT Tuệ Siêu cho đáp án trắc nghiệm 1: A

Trắc nghiệm 2. Những vị nào sau đây là bậc thánh đệ tử của Đức Phật đã hoàn toàn giải thoát? 
A. Bậc Như Lai chánh đẳng chánh giác, bậc độc giác / 
B. Bậc câu phần giải thoát, bậc tuệ giải thoát / 
C. bậc Thân chứng, bậc Kiến chí, bậc Tín giải thoát, bậc Tùy pháp hành, bậc Tùy tín hành, /
 D. bậc Chuyển tánh.


ĐĐ Pháp Tín cho đáp án trắc nghiệm 2: B

Trắc nghiệm 3. Những vị nào sau đây là bậc thánh đệ tử của Đức Phật vẫn đang hành trình tới cứu cánh viên mãn giải thoát (thánh hữu học) ?
 A. Bậc Như Lai chánh đẳng chánh giác, bậc độc giác /
 B. Bậc câu phần giải thoát, bậc tuệ giải thoát / 
C. bậc Thân chứng, bậc Kiến chí, bậc Tín giải thoát, bậc Tùy pháp hành, bậc Tùy tín hành, / 
D. bậc Chuyển tánh.


TT Tuệ Siêu cho đáp án trắc nghiệm 3: C

Trắc nghiệm 4. Những vị nào sau đây được đề cập trong bài kinh thuộc phàm nhân ? 
A. Bậc Như Lai chánh đẳng chánh giác, bậc độc giác / 
B. Bậc câu phần giải thoát, bậc tuệ giải thoát / 
C. bậc Thân chứng, bậc Kiến chí, bậc Tín giải thoát, bậc Tùy pháp hành, bậc Tùy tín hành, /
 D. bậc Chuyển tánh.

ĐĐ Pháp Tín cho đáp án trắc nghiệm 4: D

Trắc nghiệm 5. Những vị nào sau đây hành trình giác ngộ do tự thân thể nghiệm? 
A. bậc Thân chứng / 
B. bậc Kiến chí / 
C. bậc Tín giải thoát/
 D. bậc Tùy pháp hành /
 E. bậc Tùy tín hành

ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án 5: A

Trắc nghiệm 6. Những vị nào sau đây hành trình giác ngộ do niềm tin kiên cố ở bậc đạo sư? 
A. bậc Thân chứng /
 B. bậc Kiến chí /
 C. bậc Tín giải thoát/
 D. bậc Tùy pháp hành /
 E. bậc Tùy tín hành


TT Tuệ Siêu cho đáp án trắc nghiệm 6: 

Trắc nghiệm 7. Những vị nào sau đây hành trình giác ngộ do tri kiến giáo pháp? 
A. bậc Thân chứng /
 B. bậc Kiến chí /
 C. bậc Tín giải thoát/ 
D. bậc Tùy pháp hành /
 E. bậc Tùy tín hành